Tóm tắt
Chuyển nghĩa là hiện tượng ngữ nghĩa phổ quát đối với mọi ngôn ngữ, dẫn đến thay đổi số lượng nghĩa vốn có của từ, cùng với nghĩa gốc là các nghĩa phái sinh, song trước khi đạt đến sự ổn định về nghĩa phái sinh, theo Evans và Winlkins (2000), có thể xuất hiện “ngữ cảnh cầu nối” (“bridging contexts”) – một tình huống trung gian, có tính chất chuyển tiếp từ nghĩa thuộc về lời nói sang nghĩa hệ thống. Bài báo này sẽ phác thảo khái niệm “ngữ cảnh cầu nối” và thử nghiệm áp dụng với động từ nghe trong tiếng Việt.
Tài liệu tham khảo
- Châu, Đ.H. (1981). Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt. Hà Nội: NXB Giáo dục.
- Evans, N., & Wilkins, D. (2000). In the mind’s ear: The semantic extension of perception verbs in Australian languages. Language, 76(3), 546–592.
- Fortescue, M. (2001). Thoughts about thought. Cognitive Linguistics, 12, 15–46.
- Freeman, B. C. (1999). Seeing clearly: Frame semantics, psycholinguistic, and cross-linguistic approaches to the semantics of the English verb see (Doctoral dissertation). University of California, Berkeley.
- Giáp, N.T. (1999). Từ vựng học tiếng Việt. Hà Nội: NXB Giáo dục.
- Hạo, C.X. & Dũng, H. (2004). Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu Anh – Việt, Việt – Anh. Hà Nội: NXB Khoa học xã hội.
- Heine, B. (2002). On the role of context in grammaticalization. In I. Wischer & G. Diewald (Eds.), Perspectives on grammaticalization (pp.83–101). John Benjamins Publishing Company.
- Traugott, E. C. (1989). On the rise of epistemic meanings in English: An example of subjectification in semantic change. Language, 65(1), 31–55.
- Tu, N.V. (1976). Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại. Hà Nội: NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp.